Giới thiệu bệnh hại
Bệnh mốc hồng là bệnh gây hại phổ biến ở tất những vùng trồng ngô (bắp) của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể về năng suất sau thu hoạch, gây độc cho người và gia súc nếu dùng phải ngô (bắp) bị bệnh mốc hồng để làm thức ăn.
Bệnh mốc hồng hại ngô (bắp) do nấm có tên khoa học là Fusarium moniliforme Sheld gây ra. Khi bị nhiễm bệnh hạt ngô (bắp) có biểu hiện bị nứt, vết nứt trên hạt không có hình thù nhất định, hạt bị bệnh rải rác trên bắp. Chỗ nứt có màu sắc vàng hồng nhạt hay màu hồng tím.
Thời điểm ngô (bắp) bước vào giai đoạn chín đây là thời điểm cây mẫn cảm với bệnh và có thể xuất hiện và gây hại ngay, sau đó bảo tổn ngay trong hạt ngô (bắp) sau đó nấm bệnh phát triển gây hại trong giai đoạn bảo quản và chế biến.

Đối tượng gây hại
Bệnh chủ yếu gây hại trên bắp, hạt ngô (bắp)
Dấu hiệu của bệnh hại
Tùy thuộc vào giống ngô (bắp) mà có các biểu hiện về các triệu chứng khác nhau, thường phát triển mạnh vào giai đoạn cuối vụ và trong quá trình thu hoạch, bảo quản hạt ngô (bắp) bị nhiễm nấm mốc màu trắng, hồng nhạt xen kẽ giữa những hạt khỏe mạnh.
Khi bị nhiễm bệnh nặng các hạt ngô (bắp) bị đổi màu chúng có thể chuyển sang màu vàng nâu hoặc nâu. Ngô (bắp) bị bệnh mốc hồng có triệu chứng đặc trưng trên bắp ngô có từng chòm hạt ngô (bắp) mất màu sắc bóng đặc trưng của hạt ngô (bắp) thay vào đó là màu nâu nhạt; quan sát kỹ hơn trên đó bao phủ một lớp nấm xốp, mịn màu hồng nhạt nên thường được gọi là nấm mốc hồng hại ngô (bắp).
Hạt bị bệnh sẽ không được chắc mẩy, bóp bằng tay dễ vỡ, hạt dễ tách ra khỏi lõi khi va chạm đập, hạt bị bệnh mốc hỏng, chết phôi trong hạt, mất sức nảy mầm hoặc nảy mầm kém, mầm mọc ra bị héo chết ở trong đất khi gieo trồng.

Nguyên nhân phát sinh bệnh hại
Bệnh mốc hồng hại ngô (bắp) là bệnh hại chủ yếu do nấm Fusarium moniliforme Sheld gây ra, nhưng các chi nấm Fusarium khác có thể gây ra các triệu chứng bệnh tương tự.
– Nấm Fusarium moniliforme Sheld hại ngô (bắp) có tản nấm phát triển, sinh ra 2 loại bào tử:
+ Một là loại bào tử nhỏ (Microconidi) chiến số lượng nhiều, có dạng hình trứng; kích thước trung bình 4 – 30 x 1,5 – 2 Micromet, không màu, đơn bào (đôi khi có một ngăn ngang) tạo thành chuỗi dài hoặc bọc giả ở trên cành bào tử phân sinh ngắn.
+ Loại bào tử thứ 2 là loại bào tử lớn có hình dạng cong lưỡi liềm; đa bào và có nhiều ngăn ngang hơn so với loại bào tử nhỏ (3 – 5 ngăn ngang), kích thước 20 – 90×2 – 25 micromet, không màu.
+ Nấm F. Graminearum có nấm tản rất phát triển ăn sâu vào các bộ phận khi ký sinh gây bệnh, khác trên ngô với chủng nấm F. Moniliforme và nấm F. Graminearum thông thường không sản sinh ra loại bào tử nhỏ (Microconidi) mà chỉ có các loại bào tử bào tử lớn có hình bầu dục cong có trường hợp hình lưỡi liềm cong với nhiều vách ngăn ngang (3 – 6 ngăn); kích thước khoảng 25 – 75 x 3 – 6 micromet, tế bào gốc của bào tử có chân rõ rệt.
Điều kiện phát triển bệnh hại.
Bắp ngô và hạt ngô trong thời kỳ chín và trong thời gian bảo quản không đúng cách dưới điều kiện thời tiết ẩm độ cao và nhiệt độ cao là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh; trên các bắp ngô bị nấm bệnh có thể bị nấm xâm chiếm hoàn toàn và cho thấy sự phát triển dư thừa của nấm.
Nấm tồn tại trên hạt giống, tàn dư cây trồng bị bệnh, áo bắp hoặc trên các cây ký chủ khác như cỏ dại, cây mọc ven bờ…Bào tử chủ yếu được vận chuyển bằng gió. Nấm xâm nhập vào bắp ngô thông qua các vết thương va đập mạnh do gió lớn, mưa đá hoặc hư hại bởi các hoạt động cắn phá gây ra bởi côn trùng và chim, chuột hoặc tổn thương cơ giới trong quá trình canh tác, chăm sóc,… Nấm nảy mầm và dần dần xâm nhiễm vào hạt từ các điểm đó. Ngoài ra, nó có thể bắt đầu xâm chiếm lên cây từ rễ và di chuyển lên cây thông qua phát triển ngấm qua rễ.
Mức độ ảnh hưởng
Toàn bộ bắp khô héo và hạt có thể bị phá hủy hoàn toàn bởi nấm hại, năng suất hạt giảm. Nấm sản sinh độc tố, gây ngộ độc cho người, hoặc sinh vật nếu ăn phải hạt bị bệnh.
Biện pháp phòng bệnh
Thu dọn, tiêu hủy tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng sau thu hoạch. Cày và chôn tàn dư cây trồng còn lại sau khi thu hoạch, luân canh với các cây trồng không phải là cây ký chủ trong ít nhất một
Ưu tiên sử dụng các giống kháng chịu bệnh mốc hồng, sử dụng các giống lai tạo có khả năng kháng bệnh tốt. Không sử dụng những hạt ngô bị bệnh mốc hồng ở các ruộng vụ trước để làm giống cho vụ sau.
Sử dụng loại giống thích nghi với điều kiện khí hậu thời tiết địa phương nhằm đảo bảo khả năng khả năng sinh trưởng, phát triển tốt nhất.
Gieo trồng đúng mật độ theo yêu cầu của nhà sản xuất tránh trồng quá dày.
Đảm bảo bón phân cân đối NPK cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho ngô (bắp) trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển; giúp ngô sinh trưởng phát triển mạnh, tăng khả năng chống chịu hạn chế sâu bệnh hại.
Có biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cũng như nên lựa những sản phẩm phân bón chuyên dùng cho cây ngô (bắp) chất lượng.
Cần thu hoạch nhanh gọn kịp thời đúng thời điểm, không để ngô (bắp) chín tồn tại lâu trên đồng ruộng. Nên thu hoạch vào ngày nắng ráo, cần phát hiện, loại bỏ những bắp bị nhiễm bệnh bệnh ngay trong khi thu hoạch. Nhà kho cần đảm bảo chống chim, chuột, sâu mọt phá hoại, hạn chế tổn thất mà các biện pháp khác không làm được.
Các bắp ngô và hạt cần sấy, phơi khô kiệt đến độ ẩm cho phép ≤ 13% và bảo quản trong nhiệt độ thấp, mát, thoáng khí, không ẩm ướt.
Nơi lưu trữ, cất giữ cần được làm sạch sẽ, tránh ẩm mốc là điều kiện bệnh hại phát triển


Biện pháp xử lý bệnh
Kinh nghiệm truyền thống
Ngô sau thu hoạch nếu gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi có thể đem hong bắp ngô trên giàn bếp 1-2 tháng cho bám muội, sau đó xếp cũi ngô trong các kho bảo quản làm ở những nơi cao ráo, thoáng đãng, và có phễu ngăn chuột trên các chân cột.
Dùng lá xoan, lá cơi, lá trúc đào đem phơi khô và trộn vào ngô theo tỉ lệ cứ 1-1,5 kg lá khô cho 100kg ngô hạt sau đó đem đổ vào chum hoặc vại để bảo quản

Biện pháp hóa học
Khi phát hiện bệnh cần sử dụng các loại thuốc đặc hiệu để phun. Vì thiệt hại xảy ra bên trong bắp, thuốc diệt nấm không phải là cách hiệu quả nhất để chống lại căn bệnh này.
Trường hợp bất khả kháng có thể dùng chế phẩm trừ bệnh của Nghi Ạnh (Kibul) có thể dùng được tại thời điểm làm cứng hạt để kiểm soát nấm bệnh tấn công gây hại. Lưu ý khi phun thuốc thì cần pha theo đúng hướng dẫn sử dụng trên bao bì.
Thuốc trừ bệnh
Câu hỏi thường gặp
Bệnh mốc hồng phát sinh, phát triển ở giai đoạn nào trên cây ngô (bắp)?
Vết bệnh có hình dạng như thế nào?
Xử lý bằng cách nào?

