Giới thiệu bệnh tuyến trùng hại lúa
Trong sản xuất nông nghiệp bà con phải đối mặt với nhiều đối tượng gây hại cây trồng, trong đó phải kể đến tuyến trùng – là một mối nguy hại lớn, chúng là chủ mưu mở đường cho các nấm bệnh xâm nhập, gây hại cây trồng. Tuyến trùng có kích nhỏ, không thể thấy bằng mắt thường, sinh sống chủ yếu trong đất, nước và gây hại chủ yếu ở rễ cây, nên đây là đối tượng gây bệnh mà người nông dân ít được biết đến.
Bệnh tuyến trùng hại thân lúa là bệnh khá phổ biến ở cây lúa, bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất cũng như chất lượng của lúa. Khi bệnh tuyến trùng xuất hiện trên thân lá, làm sức đề kháng của cây lúa bị giảm, dễ bị tấn công bởi các sâu bệnh khác thậm chí là là làm cây lúa bị thối và chết dần.
Đối tượng bị gây hại
Bệnh tuyến trùng gây hại trên các đối tượng cây trồng trên cạn như cà phê, hồ tiêu, chanh leo, cây ăn quả…ngoài ra bệnh tuyến trùng còn xuất hiện ở cây rau màu như cà chua và phát sinh trên cả lúa.
Triệu chứng, dấu hiệu:

– Khi cây lúa bệnh nhiễm bệnh tuyến trùng ở thân sẽ các biểu hiện sau:
+ Tuyến trùng gây hại tạo ra những vết bệnh khiến lá bị trắng và từ phần đọt bông hoặc gốc lá trở lên, tuyến trùng gây hại trong suốt các giai đoạn sinh trưởng cũng như phát triển của cây lúa.
+ Vết bệnh trên đọt bông hoặc trên lá chuyển thành màu xanh nâu, sau chuyển dần thành màu nâu thẫm và lá có biểu hiện xoắn lại.
+ Bệnh làm lá non bị xoắn, bông trổ không thoát, thậm chí bị phá hủy, phần phía dưới chun xuống nhìn khá giống vết sâu năn.
Nguyên nhân phát sinh bệnh
Bệnh tuyến trùng hại thân lúa do tuyến trùng có tên là Ditylenchus angustus gây ra. D.Angutus là loại ngoại ký sinh, loài này chủ yếu sử dụng thức ăn ở các bộ phận cây lúa khi còn non.

Tuyến trùng ngoại ký sinh là những tuyến trùng sống bên ngoài rễ, sử dụng kim chích hút ngoài rễ, sinh sống và di chuyển bên ngoài môi trường đất và nước.
– Vòng đời tuyến trùng: gồm 3 giai đoạn là trứng, ấu trùng (có tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4) và trưởng thành. Tùy vào loại ký chủ và nhiệt độ môi trường mà vòng đời tuyến trùng kéo dài từ 40 đến 60 ngày.
– Tuyến trùng hoạt động trong đất với độ sâu từ 5 đến 30 cm. Độ pH của đất hầu như không ảnh hưởng đến tuyến trùng. Độ ẩm ở 60% là thích hợp, độ ẩm cao hơn hay thấp hơn cũng đều ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến trùng. Do vậy khi vào những mùa khô hay mùa mưa dầm, mật độ tuyến trùng sẽ giảm dần. Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến tuyến trùng, nhiệt độ 30 – 400C trong nhiều ngày tuyến trùng sẽ chết, ở nhiệt độ 50 đến 600C làm chết tuyến trùng trong 30 phút đến 1 giờ.
– Hình thức sinh sản của tuyến trùng: Tuyến trùng đa phần là đẻ trứng. Một con tuyến trùng cái có thể đẻ 1 hoặc có thể là vài ngàn trứng, trứng được chứa trong túi trứng. Trong môi trường bất lợi, trứng của tuyến trùng có thể ngủ từ 1 năm đến 2 năm. Khi được 2 tuổi chúng bắt đầu hình thành kim chích và xâm nhập vào nốt sần hay rễ mới. Giới tính của tuyến trùng rất phức tạp, cuối giai đoạn tuổi 3 thường là giai đoạn hình thành giới tính tuyến trùng, một số loài tồn tại chủ yếu ở thể lưỡng tính.
Điều kiện phát triển bệnh:
Bệnh do tuyến trùng gây ra bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
– Ruộng thiếu nước thường xuyên.
– Cây lúa dễ nhiễm bệnh tuyến trùng ở chân ruộng đất phèn hoặc đất cát, đất giữ nước kém.
– Ruộng bón phân không hợp lý, bón thừa phân đạm và phân lân sẽ góp phần đúc đẩy tuyến trùng sản sinh và gây bệnh.
– Ở giai đoạn mạ và đẻ nhánh (giai đầu của sự phát triển cây lúa) tuyến trùng thường gây hại nặng.
– Ở thời kỳ mạ, có thể tìm thấy tuyến trùng D.Angutus ở xung quanh phần ngọn mới phát triển, trên đất trũng có thể thấy tuyến trùng ở hầu hết các bộ phận của cây lúa.
+ Giữa vụ trồng: Tuyến trùng D.Angutus trú ngụ ngay gốc rạ trước khi nước ruộng cạn khô, các mô bẹ bệnh hay lá bệnh, tuyến trùng có thể hoạt động mạnh mẽ trên các chồi chét, các gốc rạ của cấy lúa mọc tự nhiên ngoài ruộng hoặc có thể tồn tại trên lúa dại hay trên nhiều loại cây ký chủ khác.
+ Tuyến trùng có thể tái hoạt động trong nước sau 7 đến 15 tháng, nhưng chúng có thể không có khả năng xâm nhiễm vào cây. Số lượng tuyến trùng bị giảm sau thu hoạch lúa, tuyến trùng có thời gian phân mùa giữa các thời vụ.
+ Ở điều kiện ngập úng, tuyến trùng có thể mất khả năng hoạt động ít nhất 4 tháng, tuy nhiên sau 2 tháng kể từ lúc cấy lúa, bệnh tuyến trùng sẽ xuất hiện trên cây lúa (với biểu hiện xoắn ngọn) trong trường hợp trồng lúa trên đất nhiễm tuyến trùng đã được để khô từ 6 tuần.
– Hiện nay ở nước ta với việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa thì các giống lúa ở trong nước cũng như các giống lai nhập đã xuất hiện một số vùng, tỉnh thành có triệu chứng bệnh tuyến trùng do D.Angutus gây ra. Ví dụ như các giống trồng nhiều ở miền Bắc nước ta như Q5, Khang mằn, Khang dân, Tạp giao 5, tạp giao 1…đã bị nhiễm bệnh tuyến trùng.
Mức độ ảnh hưởng:
Tuyến trùng hại thân lúa làm lá xoắn, thân héo, sinh trưởng kém, trổ bông không thoát gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây lúa. Ngoài ra khi bệnh không được kiểm soát tốt, làm cây không có sức đề kháng tốt, tạo điều kiện các mầm bệnh khác như sâu hại, nấm bệnh…tấn công cây lúa, gây ảnh hưởng nặng nề hơn cho lúa.
Biện pháp phòng bệnh
– Một trong những biện pháp đầu tiên là phải có kế hoạch thăm đồng thường xuyên để phát hiện kịp thời bệnh tuyến trùng nhằm có phương pháp xử lý hiệu quả.
– Bà con áp dụng biện pháp xen canh, luân canh, sử dụng giống sạch, sức đề kháng khỏe, giống đã qua xác nhận.
– Bà con cần đốt tàn dư cây lúa sau khi thu hoạch đặc biệt là ở các chân ruộng bị nhiễm nặng.

Biện pháp canh tác

– Cần kiểm tra độ pH đất theo định kỳ. Bón vôi để giảm độ chua cho ruộng, cải tạo đất với liều lượng 25-30 kg/sào (500 mét vuông).
– Luân canh lúa với cây không phải là ký chuẩn của tuyên trùng D.Angutus. Bà con cần chọn đất không bị nhiễm tuyến trùng để gieo mạ. Nhằm tránh gốc rạ trên đồng ruộng mọc lúa chét, lúa mọc hoang, cỏ dại, ngăn chặn sự tồn tại và phát triển lây lan sang vụ sau.
– Không được để nước cạn, cần cho nước vào ruộng khoảng 3 đến 5 cm, giữ mực nước liên tục trong 5 đến 7 ngày.
– Không tưới nước theo rãnh, mương máng vì nước sẽ chảy tràn sẽ làm nguồn bệnh tuyến trùng lây lan rộng trên ruộng lúa.
– Bón phân cân đối, không bón thừa đạm hoặc lân, bà con cần tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục bằng nấm Trichoderma có tác dụng đối kháng với bệnh tuyến trùng.
Biện pháp sinh học.
– Dùng các loài cây có tính kháng tuyến trùng như hạt cây củ đậu, hạt và lá cây sầu đâu rừng, rễ cây ruốc cá, cây bông vạn thọ, cây thầu dầu…những loại này có tác dụng gây độc và xua đuổi tuyến trùng gây bệnh.
– Bà con có thể sử dụng các chế phẩm sinh học có chứa các vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng để ức chế và tiêu diệt chúng như sản phẩm CNX-TT, Chitosan Super, Eco pali…Các chế phẩm sinh học này cung cấp bổ sung các nấm có lợi, kiểm soát tuyến trùng tấn công rễ và phục hồi chức năng rễ lúa.
Biện pháp hóa học
– Để ngăn chặn tuyến trùng bà con có thể dùng thuốc đặc trị tuyến trùng đã được công nhận trên thị trường. Một số loại trừ tuyến trùng hiệu quả như: Carbofuran, Monocrotophos, Mocap, phenazine, Nokaph, Kaido…
Biện pháp xử lý bệnh:
– Khi phát hiện bệnh gây hại trên lúa, bà con nên cho nước vào ruộng khoảng 3 đến 5 cm, giữ liên tục 5 đến 7 ngày. Sau đó có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chứa hoạt chất Fipronil dạng hạt, liều lượng 1 đến 2 kg/1000 m2. Hoặc sử dụng các thuốc đặc trị tuyến trùng có hiệu quả khác trên thị trường.
– Sau 5-7 ngày sử dụng thuốc, bà con nên bón các phân hữu cơ qua lá có chứa acid humic như sản phẩm Humate của Nghi Anh giúp lúa phục hồi nhanh chóng, giúp cây lúa ra lá, ra rễ nhanh hơn.
Câu hỏi thường gặp
Bệnh tuyến trùng hại thân phát sinh, phát triển ở giai đoạn nào trên cây lúa?
Cây lúa bị bệnh có đặc điểm như thế nào?
Trị bệnh bằng cách nào?
