Giới thiệu bệnh hại
Khoai lang là loại cây trồng phổ biến ở nước ta, chiếm thứ 3 sau lúa và ngô. Đồng thời nó cũng nằm trên danh sách nông sản xuất khẩu của nước ta. Khoai lang thuộc dạng cây dễ trồng nhưng chúng cũng dễ mắc sâu bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng. Trong đó phải kể đến bệnh do virus gây ra. Có điều đặc biệt là khoai lang dễ bị lây nhiễm với nhiều loại virus cùng lúc làm dẫn đến một bệnh nghiêm trọng hơn so với sự lây nhiễm của từng loại virus đơn lẻ. Các bệnh virus trên khoai lang được phát hiện đầu tiên ở châu Phi. Hiện nay, bệnh gây hại hầu hết ở vùng trồng khoai lang trên thế giới. Các loại virus gây ra một nhóm bệnh phức tạp và dẫn đến nhiều thiệt hại lớn trong sản xuất khoai lang như Sweet Potato Feathery Mottle (SPFMV), Sweet Potato Mild Mottle Virus (SPMMV), Sweet Potato Virus G (SPVG), và Sweet Potato Chlorotic Stunt Virus (SPCSV).
Theo kết quả điều tra từ Trường ĐH Nông nghiệp I và Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam (1994), ở nước ta xuất hiện các bệnh virus trên khoai lang như khảm lá dưa chuột trên khoai lang (CMV), virus đốm vàng (SPCV) và virus chân chim (SPFMV).
Đối tượng bệnh hại
Bệnh virus gây hại trên hầu hết cây trồng từ cây lương thực, để các loại rau quả, hoa, cây ăn trái. Một số cây bị bệnh virus phổ biến như dưa leo, cà chua, đu đủ, sắn, ngô, ớt…
Triệu chứng, dấu hiệu
Bệnh đốm gợn sóng (Sweet potato feathery mottle virus – Virus SPFMV) hay còn gọi là bệnh virus chân chim khoai lang

Bệnh hại này xuất hiện phổ biến ở hầu hết các vùng trồng khoai lang trên thế giới. Bệnh gây hại làm giảm năng suất đáng kể đặc biệt là ở giống khoai lang mẫn cảm với bệnh. Ở nước ta, trên giống khoai Muống đỏ tỷ lệ bệnh là từ 5 – 13%.
Triệu chứng bệnh thường xuất hiện và thể hiện rõ trên lá, đôi khi cũng có biểu hiện ở củ.
+ Trên lá: thường xuất hiện đốm mờ, làm lá bị biến màu không đều màu, có đôi khi có viền màu tím nhạt. Biến màu (hiện tượng gợn sóng) dọc theo gân lá giữa và có những đốm màu vàng từ mờ mờ đến nổi rõ, có hoặc không có xuất hiện viền tím.
+ Trên củ: Tùy theo tính mẫn cảm của giống và tình trạng sinh trưởng của cây và độc tính chủng virus, điều kiện ngoại cảnh mà mức độ thể hiện triệu chứng khác nhau. Ở khoai lang sinh trưởng khỏe thì triệu chứng bệnh sẽ thể hiện không rõ ràng dù cho có nhiễm virus.
Bệnh có thể gây ra những đốm hoại tử bên ngoài hay đôi khi hóa bần ở bên trong củ ở 1 số giống. Củ khoai lang nhiễm bệnh thường bị biến dạng, vỏ củ bị rạn nứt, sần sùi có màu nâu đỏ. Vết bệnh thường bao bọc quanh củ. Ruột của củ bệnh thường bị xốp và thối.
Bệnh lõm gân lá do virus SPSVV
Bệnh làm lá khoai tây biến thành màu vàng hoặc màu nâu đỏ. Gân lá cũng có thể bị vàng nhẹ, mặt trên lá bị lõm xuống. Mức độ của bệnh thể hiện triệu chứng phụ thuộc vào giống khoai. Ở một số giống bệnh có thể không thể hiện triệu chứng.
Bệnh virus khảm dưa chuột (Cucumber mosaic virus – CMV) hại trên khoai lang
Bệnh làm cây còi cọc, xuất hiện đốm khảm vàng trên lá, sau làm toàn cây bệnh cũng biến vàng. Bệnh trở nên nặng hơn khi nhiễm hỗn hợp với virus chân chim SPFMV.
Nguyên nhân phát sinh
Bệnh đốm gợn sóng
Bệnh là do Sweet potato feathery mottle virus (SPFMV) gây ra. Virus SPFMV thuộc nhóm Potyvirus.

– Đặc điểm hình thái Virus hình sợi mềm, có kích thước khoảng 13 x 850 nm. Axit nucleic của virus gây bệnh này là ARN dạng sợi đơn, trọng lượng phân tử là 3,7 x 106. – Virus có khả năng hình thành các thể vùi dạng cánh quạt trong mô cây bệnh. Virus lan lây, truyền từ cây bệnh sang cây khỏe qua rệp muội họ Aphididae theo kiểu không bền vững. Ngoài ra, virus còn có thể lan truyền qua tiếp xúc cơ học, lây thông qua củ giống hoặc các phương pháp nhân giống vô tính khác.
Bệnh lõm gân lá
Bệnh do virus SPSVV gây ra. SPSVV virus thuộc nhóm Closterovirus. Virus SPSVV lưu tồn trong hom giống và lây truyền thông qua bọ phấn thuốc lá Bemisia tabaci.
Bệnh virus khảm dưa chuột trên khoai lang
Bệnh do Cucumber mosaic virus – CMV gây ra.

– Virus CMV có dạng hình cầu, kích thước khoảng 30 nm. Virus có thể truyền qua tiếp xúc cơ học và chủ yếu do rệp muội họ Aphididae lan lâu, truyền bệnh theo kiểu không bền vững (non persistent). Virus có khả năng lây truyền qua củ khoai lang và phương pháp nhân giống vô tính.
Điều kiện phát triển bệnh
Hầu hết các bệnh do virus thường lây lan nhờ môi giới truyền bệnh như rầy, rệp, bọ phấn…do đó mật độ xuất hiện của loại này ảnh hưởng lớn khả năng gây bệnh trên khoai lang.

– SPFMV lan truyền nhờ do nhiều rệp theo phương thức không bền vững thông qua việc lấy thức ăn, chỉ trong thời gian ngắn 20 – 30 giây. Các loại rệp sống cố, hay các loài có cánh đều có thể truyền bệnh. SPFMV tồn tại lâu dài trên các hom giống giữa các vụ trồng, tuy nhiên không triệu chứng nên làm bà con khó chọn lọc hom giống không nhiễm virus.
– SPSVV truyền qua bọ phấn thuốc lá B.tabaci theo phương thức bán bền vững, cần phải lấy thức ăn trong vài giờ để lấy được virus và có hiệu quả trong lây truyền. Virus tồn tại qua các vụ trồng thông qua giống bệnh. SPSVV kết hợp cùng SPFMV gây ra bệnh virus nặng trên khoai lang.
– CMV lan truyền nhờ rệp muội theo phương thức không bền vững, virus thường kết hợp cùng SPFMV và gây ra bệnh nặng trên khoai lang.
Mức độ ảnh hưởng
Các bệnh do virus gây hại ảnh hưởng đến lá, củ gây thiệt về mặt năng cũng như chất lượng khoai lang. Đặc biệt khi bệnh do sự tổ hợp cùng lúc nhiều loại virus càng làm bệnh nặng hơn, thiệt hại nặng nề đến mùa vụ của bà con, thậm chí có thể là mất trắng mùa vụ.
Biện pháp phòng và điều trị bệnh virus ở khoai lang
Giống

Để phòng trừ bệnh virus từ sớm bà con nên chọn giống kháng bệnh từ các nơi uy tín hoặc từ ruộng sạch bệnh. Tuyệt đối không được lấy hom giống hay cũ giống từ các ruộng bệnh nặng.
Bà con cần xử lý củ giống bằng thuốc BVTV trước khi trồng.
Biện pháp canh tác

– Tránh gây tổn thương trên thân cây và lá trong quá trình chăm sóc.
– Bón phân đầy đủ, cân đối các loại phân, tăng cường thêm phân chuồng hoai mục để tăng khả năng chống chịu được bệnh cho cây.
– Vệ sinh tay và dụng cụ trước sau mỗi lần cắt tỉa khoai lang.
– Nhổ bỏ và tiêu hủy cây bệnh để tranh bệnh lây lan rộng trong đồng ruộng.
Biện pháp sinh học
– Nếu có điều kiện bà con nên trồng trong nhà lưới để hạn sâu bệnh tấn công.
– Bà con nên sử dụng các thiên địch để hạn chế mật độ của các côn trùng môi giới gây bệnh như bọ rùa, nhện đỏ,

– Bà con cũng có thể sử dụng các chế phẩm sinh học để kiểm soát và ngăn ngừa bệnh. Phun định kỳ từ 3 đến lần trong 1 vụ để phòng ngừa. Bà con cần phun ướt đẫm thân, cành, và 2 mặt lá cả vùng xung quanh gốc để hạn chế sự xuất hiện của côn trùng môi giới. Khi phát hiện bệnh bà con cần phun từ 2 đến 3 lần, mỗi lần cách nhau từ 5 – 7 ngày. Cần phun ướt đẫm thân, cành, đặc biệt là mặt lá dưới cùng vùng quanh gốc để mang lại hiệu quả tốt nhất
Bà con hãy tham khảo một số sản phẩm của Nghi Anh như Chim én, Sumo, Bay rầy,…
Thuốc trừ sâu
Khi sử dụng nên tuân theo hướng dẫn và liều lượng ghi trên bao bì sản phẩm.

