Rầy lưng trắng

Giới thiệu về rầy lưng trắng

Hình 1. Rầy lưng trắng
Hình 1. Rầy lưng trắng

Rầy lưng trắng có tên khoa học là Sogatella furcifera Horvath, rầy thuộc họ Delphacidae, thuộc bộ Homoptera. Rầy lưng trắng là sâu hại lúa quan trọng ở tất cả các vùng trồng lúa trên cả nước. Ngoài việc gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch làm cho cây lúa sinh trưởng và phát triển kém, rầy lưng trắng còn là môi giới truyền bệnh lùn sọc đen.

Rầy lưng trắng phân bố khá rộng, chúng phân bố khắp những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương và ở một số nước châu Mỹ.

Rầy lưng trắng có mật độ cao, gây hại nặng vào lúc lúa làm đòng. Một năm có khoảng 6-7 lứa rầy. Vụ xuân thường gây hại nặng ở lứa 2, 3 (vào tháng 4 – 5). Vụ mùa gây hại nặng ở lứa 6, 7 (vào tháng 9 – 10).

Đặc điểm hình thái 

Vòng đời rầy lưng trắng kéo dài khoảng 20 – 30 ngày. Trong đó, giai đoạn trứng 6 – 7 ngày, rầy non khoảng 12 đến 14 ngày, rầy trưởng thành 10 – 12 ngày.

Hình 2. Các giai đoạn sinh trưởng
Hình 2. Các giai đoạn sinh trưởng

– Trứng được đẻ trong bẹ lá hoặc gân chính của lá, phần gần cổ lá. Trứng trong suốt, ổ nhìn giống nải chuối. Trứng rầy lưng trắng tương tự của rầy nâu nhưng nấp nhọn và dài hơn.

– Ấu trùng (rầy non) có 5 tuổi, phát triển trong thời gian khoảng 15 – 20 ngày. Lúc mới nở có màu trắng sữa, nhìn rất giống ấu trùng của rầy nâu, nhưng sang tuổi 2 toàn thân rầy sẽ có màu xám, có một đốm trắng giữa bụng ở mặt lưng, bụng nhỏ hơn, cuối bụng nhọn hơn rầy nâu. Ấu trùng rầy lưng trắng linh hoạt hơn rầy nâu.

– Rầy trưởng thành (thành trùng) có kích thước từ 3 – 4 mm, thân có màu nâu đen. Tuổi thọ của gầy trưởng thành là 15 – 20 ngày. Có một vệt màu vàng lợt giữa ngực trước. Cánh trong suốt, có một đốm đen ngay giữa cạnh sau của cánh trước, khi chúng cánh xếp lại sẽ tạo thành một đốm đen to trên lưng. Con cái vừa có dạng cánh ngắn và cánh dài, trong khi con đực chỉ có một dạng cánh dài.

+ Rầy lưng trắng cánh dài: Có một vệt trắng rất rõ trên lưng ngực và một chấm đen trên mép cánh.

+ Rầy lưng trắng cánh ngắn: Màu xám, bụng thon hơn rầy nâu.

Đối tượng gây hại

Ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa, ngoài ra chúng còn có thể gây hại trên ngô (bắp), lúa mì, kê, mạch, lúa dại, cỏ lồng vực….

Triệu chứng gây hại

Ruộng bị rầy hại cây lúa sẽ vàng, úa, còi cọc và chết khô, đây được gọi là hiện tượng “cháy rầy”. Lúc đầu chỉ là từng đám, sau cháy cả vạt, có thể lan rộng ra cả ruộng và cả cánh đồng nếu không phòng trừ kịp thời.

Hình 3. Biểu hiện cháy khô do rầy gây ra
Hình 3. Biểu hiện cháy khô do rầy gây ra

Rầy lưng trắng gây hại ở  hầu hết bộ phận của cây lúa như lá, thân và bông. Rầy gây hại nặng ở 2 thời điểm là giai đoạn mạ và lúc lúa đẻ nhánh. Ở giai đoạn mạ nếu bị hại nặng cây lúa sẽ sinh trưởng kém, dảnh mạ bị héo và gây chết sau đó. Trong giai đoạn trỗ bông, nếu cây lúa bị hại sẽ có vỏ trấu có màu nâu, hạt lúa có thể bị lép hoặc lửng; Nếu bị hại vào lúc lúa chín, hạt sẽ mất khả năng nảy mầm và làm thời kỳ chín bị kéo dài ra.

Rầy cái còn có thể gây hại bằng cách chọc thủng mô bẹ lá lúa để đẻ trứng. Dịch ngọt do rầy thải ra còn giúp nấm phát triển. Đây là nguyên nhân gián tiếp gây nên bệnh muội đen trên lúa. Ngoài ra, rầy lưng trắng con là môi giới truyền bệnh lùn sọc đen trên lúa, bệnh gây nên những tổn thất nghiêm trọng.

Đặc điểm sinh thái

– Rầy trưởng thành được 4 – 5 ngày sẽ bắt đầu đẻ trứng, một thành trùng có thể đẻ được 400-600 trứng. Rầy có xu tính nhẹ với ánh sáng. Trầy lưng trắng trưởng thành rất thích ánh sáng đèn, đặc biệt là lúc trăng tròn và rầy cánh dài di chuyển đến ruộng lúa rất sớm. Rầy đực thường vũ hóa trước khoảng 2 – 3 ngày so với rầy cái. Rầy cái cánh ngắn thường được vũ hóa trước rầy cánh dài. Rầy cái cánh dài và cả cánh ngắn đều bắt đầu đẻ trứng khoảng 3 – 4 ngày sau khi bắt cặp. Các vết đẻ chung quanh ổ trứng bị hư, sau ngả sang màu nâu đậm lúc trứng gần nở. Khi thành trùng cánh ngắn xuất hiện nhiều (mật độ 0.5 – 2 con/khóm) báo hiệu rầy lứa mới sẽ phát sinh thành dịch.

Hình 4. Rầy bám trên thân lúa
Hình 4. Rầy bám trên thân lúa

– Rầy lưng trắng non thường tập trung ở gốc sát mặt nước, ít di chuyển. Rầy non mới nở chủ yếu tập trung chích hút tại ổ trứng, sau vài ngày phân tán hầu hết các bộ phận của cây. Khi bị động sẽ nhảy lên các bộ phận khác của cây hoặc có thể rơi xuống nước.

– Cả rầy trưởng thành và ấu trùng đều thích chích hút cây còn non (từ giai đoạn mạ đến nhảy chồi), sau đó giảm dần mật số và đến giai đoạn lúa trổ sẽ không còn gây hại nhiều cho cây lúa. 

– Điều kiện thích hợp cho rầy phát triển là nhiệt độ 25-30oC và ẩm độ 80-85%. Điều kiện môi trường thuận lợi, thức ăn phong phú thì rầy cánh ngắn xuất hiện nhiều; trong điều kiện không thuận lợi (cuối vụ khi rầy hết thức ăn) thì chủ yếu là rầy cánh dài.

Thiên địch của rầy lưng trắng

Tương tự như rầy nâu, thiên địch của rầy lưng trắng gồm các loại ăn thịt bắt mồi và kí sinh như: 

Thiên địch bắt mồi

– Nhện ăn thịt (Lycosa Pseudoannulata): gặp rất nhiều trên đồng ruộng, chúng tấn công rầy rất nhanh. Mỗi ngày, một con nhện trưởng thành có thể ăn thịt từ 5-15 con rầy. Ngoài rầy chúng còn có thể tiêu diệt nhiều loại sâu hại khác như bướm của loài sâu thuộc Bộ cánh phấn.

Hình 5. Nhện ăn thịt (Lycosa Pseudoannulata)
Hình 5. Nhện ăn thịt (Lycosa Pseudoannulata)

– Nhện lùn (Atypena Formosana), loại này cực nhỏ, có thể có đến 30-40 con trong 1 bụi lúa. Chúng kép mạng ở gần gốc lúa, di chuyển chậm và bắt rầy khi chúng bị mắc vào mạng. Một con nhện có thể ăn 4 – 5 con rầy/ngày.

Hình 6. Nhện lùn (Atypena Formosana)
Hình 6. Nhện lùn (Atypena Formosana)

– Bọ rùa như bọ rùa đỏ (Micraspis sp.), bọ rùa vàng (M.crocea), bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus), bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata). Các loại bọ rùa này cơ thể nhỏ bằng nửa hạt đậu xanh. Bọ rùa trưởng thành hay ấu trùng bọ rùa đều ăn được trứng, rầy cám và rầy trưởng thành. Mỗi con bọ rùa có thể ăn từ 5 đến 10 con rầy/ngày.

Hình 7. Các loại bọ rùa
Hình 7. Các loại bọ rùa

– Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis), chúng tìm trứng rầy ở bẹ lá và thân lúa, sử dụng vòi hút khô trứng, một ngày một con bọ xít xanh có thể ăn 7 – 10 trứng, 1 – 5 con rầy.

Hình 8. Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis)
Hình 8. Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis)

– Bọ xít nước (Mesovelia vittigera và M. douglasi atrolineata), có cơ thể rất nhỏ và sinh sống trên mặt nước. Cả con trưởng thành và ấu trùng đều có thể ăn rầy cám. Một ngày một con bọ có thể ăn 5 – 7 con rầy cám khi chúng rớt xuống mặt nước.

Hình 9. Bọ xít nước (Mesovelia vittigera và M. douglasi atrolineata)
Hình 9. Bọ xít nước (Mesovelia vittigera và M. douglasi atrolineata)

Thiên địch dạng ký sinh:

– Ong ký sinh trứng rầy như Anagrus optabilis, A.flaveolus, Oligosita naias, Gonatocerus spp. … chúng là loại ong cực nhỏ, khó phát hiện bằng mắt thường, sống ở tán lúa. Chúng bay khắp ruộng tìm trứng rầy, sau đó dùng vòi chích và đẻ trứng của chúng vào phía bên trong trứng rầy, làm trứng rầy bị ung, không nở được. Một con ong có thể ăn 2 -8 trứng rầy mỗi ngày, thậm chí có loại tiêu diệt từ 15 – 30 trứng.

 

Hình 10. Ong ký sinh trứng rầy
Hình 10. Ong ký sinh trứng rầy

– Nấm gây bệnh cho rầy như Hirsuytella citriformis, Erynia delphacis, Beauveria bassiana… các loại nấm này khi xâm nhập vào con rầy sẽ phân hủy thịt rầy thành thức ăn cho chúng. Những loài nấm này, có lúc diệt đến 90-95% rầy trên ruộng lúa.

 

Hình 11. Nấm gây bệnh cho rầy
Hình 11. Nấm gây bệnh cho rầy

Biện pháp phòng 

Kỹ thuật canh tác

Hình 12. Phun thuốc xử lý rầy
Hình 12. Phun thuốc xử lý rầy

Để hạn chế tác hại của rầy nói chung và rầy lưng trắng nói riêng bà con nên áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý bệnh hại như sau:

– Bà con nên dùng giống lúa kháng hay có sức chống chịu cao, ít nhiễm rầy. 

– Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại xung quanh bờ, đặc biệt là lúa chét, lúa dại.

– Gieo sạ, cấy giống tập trung và đồng loạt trên từng cánh đồng, không gieo cấy lệch thời vụ chính quá nhiều. Đồi thời áp dụng các biện pháp né rầy.

– Không gieo sạ quá dày, chỉ nên sạ 100 – 120kg giống/ha. Đối với sạ hàng là khoảng 70 – 80 kg/ha.

– Không trồng liên tục trong năm, đảm bảo thời gian cách ly giữa 2 vụ ít nhất là 20 – 30 ngày, nhằm cắt đứt nguồn thức ăn của rầy.

– Bón phân cân đối, hiệu quả giữa các loại phân, không nên bón thừa phân đạm.

– Làm cỏ, dặm, tỉa kịp thời để ruộng thông thoáng, hạn chế nơi cho rầy trú ngụ.

– Để bảo vệ cây lúa non, sau khi sạ nên cho nước vào và duy trì mực nước thích hợp trong ruộng, nhằm hạn chế rầy tấn công, hút chích.

– Bà con nên lên kế hoạch thường xuyên theo dõi, kiểm tra đồng ruộng đặc biệt là theo dõi mật độ rầy để có biện pháp xử kịp thời và hiệu quả.

Kiểm dịch thực vật

Bộ Nông nghiệp và các cơ quan có liên quan thường xuyên cập nhật tình hình về mật độ rầy lưng trắng, rầy nâu; dự báo đến bà con nếu có dấu hiện dịch rầy bùng phát. Lên kế hoạch tập huấn hướng dẫn bà con trong phòng và điều trị các bệnh do rầy gây ra.

Biện pháp sinh học

– Sử dụng thiên địch để khống chế mật số rầy. Bà có thể sử dụng thiên như nhện ăn thịt, bọ xít, bọ rùa, ong ký sinh, nấm gây bệnh cho rầy sẽ tiết kiệm được chi phí và  bảo vệ môi trường. Đối với nấm thiên địch của rầy và có thể sử dụng dưới dạng các chế phẩm sinh học, dễ sử dụng và dễ dàng tìm mua.

– Bẫy đèn: rầy lưng trắng, cũng như rầy nâu được có xu tính bắt sáng mạnh (trừ rầy trưởng thành dạng cánh ngắn), nhờ đặc tính này bà con có thể làm bẫy đèn, khi đêm tối, lặng gió, trời ôi rầy hoạt động mạnh có xu hướng bay vào đèn nhiều ở 20-22h.

Hình 13. Lắp đặt bẫy đèn
Hình 13. Lắp đặt bẫy đèn

Biện pháp xử lý bệnh

Kinh nghiệm truyền thống 

– Bà con có thể tạt dầu vào gốc lúa ở những ruộng lúa cao

– Theo nhiều nông dân khi lúa ở giai đoạn 4-5 tuần tuổi, có nơi thả cá rô phi, cá mè để trừ rầy.

Biện pháp hóa học

Các thuốc hóa học có hiệu quả trong tiêu diệt và khống chế rầy thường các hoạt chất như Imidacloprid, Thiamethoxam, Acemitaprid,… Bà con nên phun thuốc khi trứng nở khoảng 80% cùng mật độ là > 50 con rầy/khóm. 

– Giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng dùng các loại thuốc nội hấp, ức chế sinh trưởng 

– Giai đoạn đòng già đến giai đoạn ngậm sữa, chắc xanh nên dùng các loại thuốc tiếp xúc

Một số sản phẩm điển hình của Nghi Anh bà con có thể tham khảo như Sumo, Bay rầy, Đại bàng, Lửng mật,…

Thuốc trừ sâu

NA-NAZOMI 5WDG

Liên hệ để cập nhật giá

* Lưu ý:

– Bà con cần rẽ lúa 4 hàng/băng, nếu lúa tốt, mà mật độ rầy cao nên rẽ 3 hàng/băng sau đó phun trực tiếp vào nơi cư trú của rầy.

– Tuyệt đối không dùng nhóm thuốc Pyrethroid cùng với các loại thuốc khác ở đầu vụ để tránh gây bộc phát rầy ở cuối vụ và đồng thời tránh làm ô nhiễm môi trường.

– Bà con cần kiểm tra ruộng sau phun 3 ngày (đối với rầy lưng trắng), 1-2 ngày (với rầy nâu), nếu thấy mật độ rầy còn hơn 50 con/khóm thì cần phải phun lại.

Câu hỏi thường gặp

Cây lúa bị rầy lưng trắng tấn công có biểu hiện gì?

Thiên địch của chúng là loại nào?

Tượng tự rầy nâu thì thiên địch của rầy lưng trắng gồm loài bắt mồi có nhện ăn thịt, nhện lùn, bọ xít mù xanh, bọ xít nước, bọ rùa; loài ký sinh có ong ký sinh trên trứng, nấm gây bệnh

Xử lý bệnh bằng cách nào?

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận