Giới thiệu về rầy nâu

Rầy nâu tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal, chúng thuộc họ Delphacidae và thuộc bộ Homoptera.
Rầy nâu phân bố rất rộng rãi trên thế giới, chúng có mặt ở Đông Nam á, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc, Triều Tiên. Ở Việt Nam, rầy nâu có mặt ở hầu hết các vùng trồng lúa đặc biệt các vùng thâm canh. Ở Việt Nam, do cách biệt về địa lý với ranh giới là đèo Hải Vân, tại đây hướng gió tây nam đổi hướng ra biển đông, ngăn chặn sự lây lan giữa các quần thể rầy nâu ở 2 miền do đó hình thành 2 quần thể rầy nâu riêng biệt ở miền Nam và miền Bắc.
Ở miền Nam rầy nâu có thể gây hại liên tục ở các vụ lúa, còn ở miền Bắc hiện tượng cháy rầy thường xảy ra ở vụ Xuân vào tháng 5, vụ mùa vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10

Đặc điểm hình thái
– Vòng đời rầy nâu khoảng 28-30 ngày. Trong đó, giai đoạn trứng khoảng 6-7 ngày, ấu trùng 12-14 ngày, giai đoạn trưởng thành 10-12 ngày.

– Hình dáng:
+ Trứng được đẻ trong bẹ lá hoặc gân lá, có hình bầu dục cong như quả chuối, kích thước 0.3-0.4 mm, một đầu to, một đầu nhỏ có nắp đậy trong suốt. Khi sắp nở có màu vàng, có 2 điểm mắt đỏ.
+ Ấu trùng rầy nâu (rầy cám) có 5 tuổi, khi mới nở có màu trắng ngà sau dần thành vàng nâu ở tuổi 2 – 3 trở đi, thân hình tròn, kích thước dài 1-3 mm, chúng rất linh hoạt.
+ Rầy nâu trưởng thành có màu nâu, thường có 2 dạng cánh là cánh ngắn phủ khoảng 2/3 thân và cánh dài phủ kín bụng.
Dạng cánh dài: con cái dài khoảng 4.5 – 5 mm (kể cả cánh). Mặt bụng có màu nâu vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước. Mắt đơn có hai màu nâu đỏ, mắt kép màu nâu non, phần gốc râu có 2 đốt phình to, đốt roi râu thường dài nhỏ, có nhiều đốm. Trên lưng ngực trước và cả phiến mai có bụng rộng, dạng rãnh phía cuối. Con đực kích thước 3.6 – 4 mm. Đa số màu nâu tối, bé hơn con cái, cuối bụng có dạng loa kèn.
Dạng cánh ngắn: Con cái kích thước 3.5 – 4 mm, to. Cánh trước dài tới giữa đốt bụng thứ 6, bằng 1/2 chiều dài cánh trước của dạng cánh dài. Con đực dài khoảng 2 – 2.5 mm, bé, màu nâu đen là chủ yếu, cánh trước dài tới 2/3 chiều dài của bụng.
Hai dạng cánh này đơn thuần chỉ là sự biến đổi về hình thái, biểu hiện rằng điều kiện môi trường thuận lợi nhiều hay ít đối với rầy nâu. Sự xuất hiện của rầy cánh dài, cánh ngắn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng. Dạng rầy cánh ngắn xuất hiện nhiều khi ẩm độ cao, nhiệt độ thấp, nguồn thức ăn phong phú; ngược lại nhiệt độ cao, độ ẩm thấp, không phù hợp về thức ăn thì xuất hiện dạng cánh dài nhiều. Ở môi trường bình thường, rầy nâu sẽ xuất hiện dạng cánh dài cùng với tỉ lệ đực cái là 1:1, nếu trong điều kiện môi trường thuận lợi thì rầy sẽ xuất hiện dạng cánh ngắn cùng tỉ lệ đực cái là 1:3.

Đối tượng gây hại
– Rầy nâu gây hại trên lúa ngoài ra còn có thể gây hại trên ngô (bắp), lúa mì, kê, mạch, lúa dại, cỏ lồng vực….
Triệu chứng gây hại
Rầy nâu là tác nhân truyền bệnh gây bệnh vàng lùn lúa cỏ, vàng lùn và lùn xoắn lá.
– Triệu chứng bệnh lùn lúa cỏ: Bụi lúa sẽ bị lùn, đâm rất nhiều chồi nhỏ. Lá lúa nhỏ hẹp, ngã màu vàng. Trên lá xuất hiện nhiều vết đỏ màu nâu.

– Triệu chứng vàng lùn, lùn xoắn lá:
+ Chồi lúa bị lùn, gốc lá lúa có biểu hiện xòe ngang.
+ Lá lúa bị vàng, hoặc lá có màu xanh đậm hơn kèm theo các triệu chứng như xoắn lá, rách lá, gân lá sưng hoặc có bướu.

Đặc điểm sinh thái
– Đầu tiên rầy xuất hiện thành đừng đám giữa ruộng, sau lan dần qua quanh ruộng.
– Rầy nâu tập trung chủ yếu ở gốc lúa, rầy chích hút nhựa cây là cho cây lúa chậm phát triển. Cả trưởng thành và ấu trùng đều gây hại bằng việc chích hút nhựa cây. Khi chích chúng tiết ra Enzyme làm cản trở sự lưu thông của nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cho cây lúa bị héo khô, nếu gây hại mạnh sẽ gây hiện tượng “cháy rầy”.
– Rầy trưởng thành tập trung ở trên thân cây lúa hay phía dưới khóm lúa theo từng đám để hút nhựa cây. Khi bị khua động thì rầy lẩn trốn bằng cách nhảy lên hoặc bò qua bộ phận khác của cây, hoặc sang cây khác, xuống nước hoặc bay xa đến chỗ khác.
– Điều kiện cho rầy nâu phát triển mạnh là nắng mưa xen kẽ. Trong trường hợp thiếu thức ăn do cây lúa bị cháy vàng hoặc khô già sẽ xuất hiện rầy cánh dài để di chuyển sang ruộng khác.
– Rầy trưởng thành được 4-5 ngày tuổi có thể đẻ trứng. Rầy tập trung đẻ trứng ở gốc lúa, cách mặt nước khoảng 10 – 15 cm. Trứng được đẻ ở mô tế bào bẹ lá hoặc ở gân chính của lá. Mỗi con rầy có thể đẻ khoảng 400-600 trứng.
– Đặc điểm gây hại:
+ Lúa đẻ nhánh: Rầy nâu hút chích nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân, khi gây hại nặng làm cây vàng còi cọc, khô héo và gây chết cây.
+ Lúa từ giai đoạn làm đòng đến trổ: Rầy thường tập trung ở cuống đòng non, hút chích làm cây khô héo, hạt và bông bị lép đen.
+ Lúa chín: Rầy tập trung lên thân ở phần thân non mềm.
Thiên địch của rầy nâu
– Bắt mồi:
+ Nhện ăn thịt (Lycosa Pseudoannulata): có nhiều trên đồng ruộng, chúng chủ động tấn rầy cực nhanh. Mỗi ngày, một con nhện trưởng thành có thể ăn thịt từ 5-15 con rầy.

+ Nhện lùn (Atypena Formosana), loại này cực nhỏ, có thể có đến 30-40 con trong 1 bụi lúa. Chúng kép mạng ở gần gốc lúa, di chuyển chậm và bắt rầy khi chúng bị mắc vào mạng. Một con nhện có thể ăn 4 – 5 con rầy/ngày.

+ Bọ cánh cứng như bọ rùa đỏ (Micraspis sp.), bọ vàng (M.crocea), bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus, bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata). Bọ rùa trưởng thành hay ấu trùng bọ rùa đều ăn được trứng, rầy cám và rầy trưởng thành. Mỗi con bọ rùa có thể ăn từ 5 đến 10 con rầy/ngày.

+ Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis), chúng tìm trứng rầy ở bẹ lá và thân lúa, sử dụng vòi hút khô trứng, một ngày 1 con bọ có thể ăn 7 – 10 trứng, 1 – 5con rầy.

+ Bọ xít nước (Mesovelia vittigera và M. douglasi atrolineata), sinh sống trên mặt nước. Một ngày một con bọ có thể ăn 5 – 7 con rầy cám khi chúng rớt xuống mặt nước.

– Ký sinh:
+ Ong ký sinh trứng rầy như Anagrus optabilis, A.flaveolus, Oligosita naias, Gonatocerus spp. … chúng là loại ong cực nhỏ, sống ở tán lúa. Chúng bay khắp ruộng tìm trứng rầy, sau đó dùng vòi chích và đẻ trứng của chúng vào phía bên trong trứng rầy nâu. Điều này làm trứng rầy nâu bị ung, không nở được. Một con ong có thể ăn 2 – 8 trứng rầy mỗi ngày, thậm chí có loại diệt từ 15 – 30 trứng.

– Nấm gây bệnh cho rầy nâu như Hirsutella citriformis, Beauveria bassiana… các loại nấm này thâm nhập vào con rầy sẽ phân hủy thịt rầy thành thức ăn cho chúng.

Biện pháp phòng bệnh
Kỹ thuật canh tác
– Bà con nên dùng giống lúa kháng hay có sức đề kháng cao, ít nhiễm rầy. Nếu thuận lợi nên thay thế giống dài ngày bằng giống ngắn ngày.
– Tiến hành vệ sinh đồng ruộng trước gieo sạ và sau thu hoạch: Phát sạch gốc rạ, không để lúa chét phát triển. Nhổ bỏ các bụi bị bệnh để ngừa bệnh vàng lùn xoắn lá.
– Gieo sạ, cấy giống tập trung và đồng loạt trên từng cánh đồng, không gieo cấy lệch thời vụ chính quá nhiều.
– Không gieo sạ quá dày, chỉ nên sạ 100 đến 120 kg giống trên ha. Đối với sạ hàng là khoảng 70 đến 80kg/ha.
– Bón phân cân đối, hiệu quả giữa các loại phân, không nên bón thừa phân đạm.
– Làm cỏ, dặm, tỉa kịp thời để ruộng thông thoáng.
– Bà con nên lên kế hoạch thường xuyên theo dõi, kiểm tra đồng ruộng đặc biệt là theo dõi mật độ rầy nâu để có biện pháp xử kịp thời và hiệu quả.
– Nên có thời gian để ruộng đất trống khoảng 20 – 30 ngày để cắt đứt nguồn thức ăn của rầy nâu.
– Cần duy trì mực nước thích hợp, điều này giúp hạn chế rầy nâu chích hút.
Kiểm dịch thực vật
Bộ Nông nghiệp và các cơ quan có liên quan thường xuyên cập nhật tình hình về mật độ rầy nâu, dự báo đến bà con nếu có dấu hiện dịch rầy nâu bùng phát. Lên kế hoạch tập huấn hướng dẫn bà con trong phòng và điều trị các bệnh do rầy nâu gây ra.
Biện pháp sinh học
Sử dụng các thiên địch của rầy nâu là các loài nhện Pardosa pseudoannulata và Araneus inustus, hoặc các loài được liệt kê ở phần trên. Ngoài có thể sử dụng các chế phẩm sinh học về các loại nấm đối kháng của rầy nâu.
Biện pháp xử lý bệnh
Bà con có thể tạt dầu vào gốc lúa ở những ruộng lúa cao. Theo nhà nông khi lúa ở giai đoạn 4-5 tuần tuổi, có nơi thả cá rô phi, cá mè để trừ rầy nâu. Sử dụng các loại thuốc trừ sâu phổ rộng có tác dụng tiếp xúc, vị độc để ngăn cản sự tấn công diện rộng của chúng. Một số sản phẩm điển hình của Nghi Anh mà bà con có thể tham khảo như Sumo, Bay rầy, Đại bàng, Lửng mật,…
Thuốc trừ sâu
– Lưu ý khi phun thuốc BVTV
+ Không phun khi cây lúa đang nở hoa, thụ phấn.
+ Khi rầy nâu nhỏ xuất hiện là thời điểm phun hợp lý nhất.
+ Nên phun vào sáng sớm hoặc chiều mát, vì đây là lúc rầy bò ra nhiều.
+ Trước phun nên cho nước ngập ruộng để rầy con di chuyển lên, dễ trúng thuốc hơn.
+ Lưu ý thời gian cách ly là 7-10 ngày.
+ Đối với các những ruộng lúa tốt nên rẽ lúa thành các băng rộng khoảng 1-1.5m, phun thuốc vào phần thân, gốc gây từ 2-3 cm để đạt hiệu quả cao.
Câu hỏi thường gặp
Cây lúa bị rầy nâu tấn công có biểu hiện gì?
Thiên địch của chúng là loại nào?
Xử lý bệnh bằng cách nào?

