Hình 1. Ruộng đậu tươngGiới thiệu bệnh hại
Đậu tương (đậu nành) có tên khoa học là Glycine max L.Merrill, thuộc cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế và hàm lượng dinh dưỡng cao. Ngoài ra đậu tương còn có vai trò trong cải tạo đất do rễ có khả năng cố định nitơ trong không khí qua hệ thống nốt sần. Hiện nay đậu tương được trồng phổ biến trên thế giới, chủ yếu tập nhiều ở Châu Mỹ trên 70%. Ở nước ta, đậu tương đã được trồng từ rất lâu nhưng diện tích, năng suất và sản lượng còn thấp.
Cũng như hầu hết các cây trồng khác, đậu tương cũng bị nhiều loại sâu bệnh hại tấn công gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng. Theo thống kê, thiệt hại do sâu bệnh gây ra ở đậu tương có thể lên đến 50 – 90% nếu không được phòng và điều trị kịp thời. Trong đó có nhiều bệnh gây hại nặng có khả năng tồn tại trong hạt và lây lan từ vụ này sang vụ khác. Điều này phải kể đến bệnh thán thư trên đậu tương.
Bệnh thán thư ở cây đậu tương (Colletotrichum truncatum) là bệnh phổ biến khắp các vùng trồng đậu tương trên thế giới. Bệnh được phát hiện và công bố đầu tiên ở Hàn Quốc vào năm 1917. Bệnh do nấm gây ra, nấm gây bệnh có phổ ký chủ rộng, gây hại trên tất cả các cây trồng họ đậu như đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ,đậu trạch, đậu phộng,…
Đối tượng bệnh hại
Bệnh thán thư là loại bệnh gây hại phổ biến trên nhiều loại cây trồng từ cây rau xanh, cây ăn quả, đến các loại hoa và cây cảnh. Các cây trồng thường gặp bệnh thán như ớt, dưa leo, cà chua, xoài, các cây họ đậu….
Triệu chứng, dấu hiệu
Bệnh thán thư có thể tấn công cây đậu tương ở hầu hết các giai đoạn sinh trưởng, từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch. Nấm bệnh gây hại ở các bộ phận của đậu tương như lá, thân, cành, quả và hạt.

– Giai đoạn cây con nấm bệnh tấn công làm cây xuất hiện vết bệnh dạng đốm, có màu nâu ướt, lá mầm hơi lõm. Sau đó bệnh dần phát triển xuống thân, làm lá mầm bị bệnh thường sớm rụng. Bệnh nặng thậm chí gây chết cây con.
– Trên lá bệnh thường vết bệnh biểu hiện là các vết chết hoại tử, có màu nâu đỏ trên gân lá, làm thối gân. Bệnh có thể gây hại trên phiến lá, biểu hiện là các vết bệnh có màu nâu, hình bầu dục, hơi lõm, xung quanh thường có viền màu nâu đỏ, trên bề mặt vết bệnh xuất hiện các chấm nhỏ màu đen (đây là các đĩa cành của nấm bệnh). Lá bị bệnh thường bị xoắn lại, và rất dễ bị rụng.
– Vết bệnh trên thân cành, cuống lá hay vỏ quả thường có màu nâu. Hạt bị bệnh thường nhỏ, bề mặt nhăn nheo và có các vết màu xám, sau dần chuyển thành màu nâu hoặc nâu đen. Cây nhiễm bệnh phát triển kém, nếu nhiễm bệnh ở giai đoạn sớm cây đậu tương sẽ không có khả năng phát triển quả. Ở một số cây, mặc dù có nhiễm nấm tuy nhiên trên thân và hạt có thể không biểu hiệu triệu chứng.
Nguyên nhân phát sinh
Bệnh thán thư đậu tương do nấm Colletotrichum truncatum gây ra. Nấm này thuộc bộ Melanconiales, lớp Nấm Bất Toàn.

Tản nấm gần như không xuất hiện, nếu có thì thường rất mỏng và có màu sáng hoặc màu trắng hồng. Sợi nấm không màu, thuộc dạng đa bào. Đĩa cành nấm mọc đơn lẻ hoặc đôi khi tập trung thành từng nhóm. Lông bám trên đĩa cành của nấm có màu nâu hoặc màu đen, thường có từ 0 – 9 ngăn ngang, kích thước 50 – 468 x 2 – 7 µm, dài hơn cụm bào tử phân sinh. Bào tử phân sinh chủ yếu tập trung thành cụm, có màu trắng, trắng đục đôi khi là vàng nhạt đến vàng da cam. Bào tử phân sinh không màu, kích thước khoảng 15 – 27 x 2 – 5 µm, dạng thon dài, hơi cong và nhọn ở hai đầu.
Nấm gây bệnh có khả năng lây nhiễm hệ thống, sẽ biểu hiện triệu chứng bệnh sau khi cây đã thuần thục. Sợi nấm C.truncatum có thể tồn tại ở trong nội nhũ và phôi hạt. Bào tử nấm nảy mầm sẽ hình thành 1 đến 2 ống mầm ngắn, sau đó sinh ra các giác bám xâm nhập thông qua biểu bì của cây. Gặp điều kiện thuận lợi có giọt nước cùng nhiệt độ ở 20 – 25 độ C, nấm có thể nảy mầm, hình thành giác bám trong khoảng 6 giờ, thời kỳ tiềm dục từ 60 đến 65 giờ.
Nguồn bệnh chủ yếu tồn lưu ở dạng sợi nấm trên hạt giống và các tàn dư cây bệnh. Trên hạt giống, sợi nấm có thể tồn tại từ 1 – 2 năm.
Điều kiện phát triển bệnh
Bệnh thán thư ở đậu tương phát triển mạnh ở điều kiện độ ẩm cao, nhiệt độ ở khoảng 280C. Ở nhiệt độ dưới 130C, độ ẩm không khí thấp hơn 80%, bệnh có thể ngừng phát triển. Bệnh gây hại mạnh khi đậu tương đang ở giai đoạn hình thành và phát triển quả cho đến giai đoạn thu hoạch.
Sợi nấm ở hạt giống có thể lây lan, gây truyền bệnh cho cây con mới mọc. Bào tử phát sinh, lây lan qua gió, nước mưa, nước tưới hay côn trùng gây hại trên đồng ruộng.
Bệnh phát triển mạnh trên những ruộng đậu tương mới trồng, đặc biệt là ruộng mật độ gieo trồng dày, trồng liên tục nhiều vụ. Tỷ lệ nhiễm bệnh thán thư trên đồng ruộng đậu tương phụ thuộc vào mức độ nhiễm bệnh của hạt giống và điều kiện ẩm độ trên đồng ruộng. Bệnh cũng phát triển mạnh ở các khu vực có nhiều mưa, úng trũng, bón phân không cân đối.
Các giống đậu tương nhiễm bệnh thán thư cao là các giống DT 84, AK 03. Các giống đậu tương nhiễm bệnh ở mức độ thấp hơn là DT 22, DT 90, DT 93.
Mức độ ảnh hưởng
Bệnh thán thư gây hại hầu hết các bộ của cây đậu tương, làm lá khô mất khả năng quang hợp ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây, cây kém ra trái, hoặc không ra trái, bệnh tấn công vào trái làm giảm chất lượng hạt, hạt bị nhiễm bệnh thượng thì hàm lượng các axit amin giảm. Bệnh làm giảm đáng kể nâng suất và chất lượng đậu tương.
Biện pháp phòng và điều trị bệnh thán thư đậu tương
Giống

– Bà con nên chọn giống chống chịu bệnh, giống khỏe, có sức đề kháng tốt. Nên chọn những giống đã xác nhận, đến các cơ sở uy tín, chất lượng để lựa chọn giống.
– Trước khi gieo trồng bà con cần xử lý hạt giống bằng một số hóa học như Thiram, Benomyl, Captan.
Biện pháp canh tác

– Chuẩn bị trước gieo trồng: Cần thu gọn và xử lý sạch sẽ các tàn dư cây, quả bệnh bằng cách đốt đồng thời kết hợp với cày sâu để lấp vùi các tàn dư, tránh để mầm bệnh vụ trước lây lan cho vụ sao.
– Nên gieo hạt ở các vị trí cao ráo, có khả năng thoát nước tốt, bà con cần vun gốc cao, tránh ứ đọng nước vào mùa mưa.
– Không gieo quá dày vì cây sẽ làm cho cây thiếu dinh dưỡng, đồng thời làm tăng độ ẩm dưới tán lá, tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công. Nên trồng đậu tương với khoảng cách tối thiếu là 50 cm.
– Thường xuyên thăm đồng và giám sát cây trồng. Chăm sóc, làm cỏ, cắt tỉa đúng cách, cần vệ sinh sạch sẽ công cụ và trang thiết bị làm đồng.
– Bón phân hợp lý và cân đối liều lượng giữa các loại phân N, P, K.
– Bà con cần có kết hợp luân canh với lúa nước hoặc các cây họ thảo.
Biện pháp sinh học
– Bà con có thể sử dụng các chế phẩm sinh học chứa các nấm đối kháng như Gliocladium roseum, Penicillium thomii, Trichoderma viridae trong việc xử lý hạt giống cũng như việc làm giảm tỉ lệ bệnh.
Biện pháp xử lý bệnh
– Khi bệnh gây hại bà con có thể dùng thuốc BVTV, vì thuốc BVTV có khả năng thấm sâu để diệt sợi nấm.
– Các thuốc BVTV có hiệu quả trong diệt nấm bệnh thường chứa các hoạt chất tiêu biểu như: Mancozeb, Azoxystrobin hay Difenoconazole
– Khi phát hiện đậu tương chớm xuất hiện bệnh cần phun thuốc phòng trừ kịp thời, bà con hãy tham khảo một số sản phẩm của Nghi Anh như Kibul, Nazosi,…đồng thời kết hợp một số sản phẩm có hoạt chất điều hòa sinh trưởng như Tonik, Ado,…giúp cây phục hồi sau bệnh
Thuốc trừ bệnh
Phân bón lá


